Rss Feed Tweeter button Facebook button
Pages Navigation Menu

STANZA

Xa xưa, thuở mới được lên báo khổ to, có chị phóng viên hỏi một câu cũ mèm rằng thì là em có lời khuyên gì cho các bạn dịch trẻ. Ong mập, người trả lời hộ đa số các câu hỏi nhà báo xưa nay của A, đã đưa ra lời khuyên một cách rất ong mập: phải đọc thật nhiều. Cá nhân Ong mập là người đọc vô thiên lủng, thiên văn không gì không thông, địa lý cái chi cũng tường, trí nhớ lại siêu việt. Còn A thì chẳng mấy khi đọc sách, nói cho đúng chỉ đọc tản văn tùy bút tiểu luận lan man trên báo trên mạng. Cách đó ít lâu, thấy Hàn Hàn trả lời phỏng vấn: “Tôi không đọc tiểu thuyết nữa. Chỉ đọc tạp chí. Tôi đã thôi đọc sách từ cách đây 7-8 năm. Tôi nghĩ tôi đã đọc đủ rồi”, bèn gật gù yên tâm. Tại sao lại dẫn lời Hàn Hàn? Bởi vì Hàn Hàn là một trong ba tác giả Hoa ngữ mà A thích nhất (hai người kia là Hoàng Dị và Bộ Phi Yên). Gần đây để tăng gia, có đi nhận viết quảng cáo thay vì bóc lạc dán nhãn túi hay nuôi thỏ, mới sửng sốt thấm thía câu nói chí lý không rõ của ai: “Đổ nhiều mồ hôi trên thao trường thì ra chiến trường sẽ bớt đổ máu”, áp dụng vào trường hợp của A nghĩa là, nếu trước đây chịu khó đọc sách thì nay vốn từ, vốn câu, vốn tầm chương trích cú, vốn ví von hàm ngôn ẩn dụ sẽ nhiều hơn, viết lách không phải tra cứu mỏi tay nữa. Ý thức được điều đó, đành chịu khó đọc sách trở lại, nhưng ai ngờ từ những năm cuối thế kỷ trở đi, người ta lại xuất bản nhiều đến thế! Biết đọc từ đâu đây? Thoạt tiên xác định đọc trước hết những thứ nhân loại đã xếp sẵn hộ là đỉnh cao, cụ thể là các sách đoạt giải thưởng, đọc chưa được bao lăm bỗng vấp phải Cái trống thiếc của Gunter Grass, ôi thôi mắt hoa mày váng đọc liền bốn tháng vẫn không hiểu gì. May sao ngẫu nhiên một hôm vớ được bài tạp văn Đàn ông đọc sách của Trần Khôi Việt, tới câu “Hỡi ơi, đã là sách thì làm quái gì có sách dở” thấy chí lí quá, bèn đem ra làm cái cớ ngụy biện, từ đó gặp gì đọc nấy.

Tết rồi tổng kết lại, hóa ra mấy năm qua chỉ tọng họng toàn dạng dễ vào của các bà chuyên viết thể loại ngùn ngụt lửa tình say đắm dành cho phụ nữ như Mary Balogh, Julie Garwood, Lisa Kleypas, Nalini Singh… thậm chí Trần Thị Bảo Châu (cô Châu viết truyện tình cảm nhưng hời hợt nhạt nhẽo, chắc do hạn chế về thuần phong mỹ tục Việt Nam, cũng có thể do trí tưởng tượng không dám vượt lên mức nghèo nàn).

Ba năm sau khi đăng trên tạp chí Đẹp, Đàn ông đọc sách được Nguyễn Việt Hà gom lại và in chung cùng 61 (tại sao không phải 68?) bài khác vào tập tạp văn Đàn bà uống rượu (Tiền Phong và Văn học xuất bản quý I/2010). Là tập hợp xuất hiện có lẽ thuần túy do thời gian và nhất là số lượng đã đủ, Đàn bà uống rượu lan man về đủ thứ trên trời dưới bể không chủ đề tiêu biểu nào, ngay nhan đề trên bìa cũng chỉ lấy (chắc là bừa) từ tên một bài trong tập. Tuy vậy nhìn mục lục có thể chia làm bốn nhóm: đàn bà (Đàn bà có võ, Đàn bà khó dạy, Đàn bà uống rượu…), đàn ông (Đàn ông dở hơi, Đàn ông đọc sách, Đàn ông tặng quà…), thiếu nữ (Thiếu nữ hàng xóm, Thiếu nữ đánh cờ, Thiếu nữ nhìn mưa…) và khác (Chân hoa hậu, Quá khứ có đường về, Bi tráng anh em rể…)

Chưa đọc tiểu thuyết dư luận một thời Cơ hội của Chúa, nên không rõ giọng văn của Nguyễn Việt Hà hồi ấy ra sao. Nhưng trong Đàn bà uống rượu, anh trưng bày tuyền một lối tưng tửng hết bài nọ sang bài kia, tưng tửng từ cách dùng từ, cụm từ đến cách đúc kết vấn đề. Này là kiểu đảo ngược tính từ lên trước danh từ, trạng từ lên trước động từ y hệt tiếng nước ngoài, hết “đầm đìa mưa”, “xa xỉ đàn ông”, “tuyệt vọng tiểu thư”, “tử tế bằng cấp” lại “trầm ngâm sâu sắc láo liên đọc”, “manh nha lác đác có”, “người cũ kỹ thủ đô”… Này là hàng chuỗi mô tả lổn nhổn nhồi nhét bên nhau làm người ta theo hụt cả hơi, hết “những vời vợi thân cành gầy guộc đã chun chút một ít xanh non buồn bã in lên bầu trời vẩn mây nhấp nhô mái ngói xám trĩu”, lại “họ mê man chỉ thích xem giai nhân bỗng chúm chím nắc nẻ cười hoặc cau mày trong veo giọt lệ khóc”…

Trong Đàn bà uống rượu xuất hiện kha khá thơ, lúc thì trích của Bảo Sinh, lúc thì Nguyễn Việt Hà bảo là ca dao hoặc ca dao hiện đại. Tôi đối với thơ một khiếu không thông, nhưng phải nhận rằng trong tạp văn của Nguyễn Việt Hà, những thơ ấy rất đắc địa. Hôm đọc đến câu “Gió xuân thổi lật yếm đào, sao trông thấy oản không vào thắp hương”, tôi đem treo lên twitter. Vô Công tiên sinh một người theo trường phái thơ hương tiêu của đất Hà thành liền kêu lên rằng thơ em hay thế. Tôi vội đính chính đây là ca dao, tiên sinh lại cảm thán ôi ca dao mà cũng chuối nhỉ.

Thêm vài ví dụ:

…Họ nhí nhảnh mặc áo rộng ngực bối rối cắn móng tay, rồi tự tin phong phanh đứng trước chồng hoặc người tình. Họ không biết rằng những gã đàn ông có thói quen xấu hay vượt đèn đỏ luôn ám ảnh hai điều đáng sợ “Sợ nhất công an chào ta. Về nhà sợ nhất vợ già khỏa thân” (thơ Bảo Sinh). (Thời gian ở phụ nữ) …

“Tiếc em cởi váy quá nhanh. Nếu em thong thả đã thành phu nhân.” Phu nhân thì chẳng quá hay nhưng hình như chưa bao giờ là quá tệ. (Thiếu nữ nhìn mưa)

Thơ trích dẫn trong Đàn bà uống rượu, những chỗ hạ lạc lý thú đa phần đều có vị hương tiêu như vậy.

oOo

Tp văn là mt phân nhánh ca tn văn, mt biến th ca văn ngh lun, va có tính ngh lun va có tính tr tình, thường là mt bài ngn, ngôn ngữ linh động, hình thc đa dng (văn xuôi hoặc thơ), người viết dùng các th pháp tu t ngot ngoéo đ din đt tư tưởng và tình cm ca mình, là hình thc văn bn tương đi thnh hành thi xã hi chưa cm t do ngôn lun (Wikipedia.org). Ở Trung Quốc, các tác phẩm tạp văn đầu tiên ngập ngừng đây đó trong trước tác của chư tử bách gia thời Tiên Tần (thế kỷ III, IV tr.CN), nhưng thuật ngữ tp văn chỉ đến thời Nam Bắc Triều (khoảng thế kỷ V CN) mới được xác định trong Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp nhà Lương. Ở Nhật, tác giả tạp văn đầu tiên có lẽ là bà Sei Shonagon thời Heian (cuối thế kỷ X) với tác phẩm nổi tiếng Makura no Soshi, ghi chép quan sát và cảm nghĩ về phong cảnh, về cuộc sống ngày thường bằng giọng văn giản dị ý nhị. Ở Pháp thì người đầu tiên viết tạp văn chắc là Michel de Montaigne vào thế kỷ XVI, và truyền cảm hứng để đến cuối của cùng thế kỷ ấy ông người Anh Francis Bacon cho in cuốn Essays. Đến tạp văn Việt Nam thì thông tin tắc tị. Chỉ nhớ mang máng đâu đó người ta nói rằng tạp văn là thể văn có ít độc giả nhất trong các thể loại văn học. Phải chăng vì đọc/viết khó hay?

Tôi trọng tác phẩm nào chứa đựng một tư tưởng, một chiêm nghiệm hoặc một điều nung nấu gì. Khi ấy văn chương mới là tâm hồn, là tinh huyết, là món quà có sức nặng gửi gắm đến độc giả. Còn không thì văn chương chỉ là cái bị đựng mồ hôi, đựng chỗ vùng vẫy tưởng tượng, đựng âm thanh bàn phím của nhà văn mà thôi. Tôi trọng tư tưởng văn chương hầu quá cách thức biểu đạt, vì vậy tôi ưa cái trăn trở ngột ngạt của Thiết k vô song hơn cái phóng khoáng vô thúc của Tiêu hn hi đường, ưa cái lạnh lùng tàn nhẫn của Tu la đo hơn cái rưng rưng diễm tuyệt của Tht d tuyết, ưa cái gò bó se sắt của Anh hùng chí hơn vạn tượng kim qua của Côn Luân. Tạp văn thì là ngoại lệ trong văn chương, tạp văn chẳng cần gì tư tưởng hay nung nấu, tạp văn chỉ cần anh ngồi uống rượu và rung động vì cô hàng lạc, anh đi ngoài bãi sông Hồng thấy nước cạn nhe, đấy đều là khơi mào cho một tạp văn đầy tính liên tưởng. Nhưng để thu hút, để khiến người ta khoan khoái mua vui được vài trống canh, anh phải viết sao cho có duyên.

Nếu nói có duyên, thì Đàn bà uống rượu hẳn rằng có duyên, lối nghịch từ của Nguyễn Việt Hà đem lại vài mỹ cảm, con mắt anh giúp nhận ra nhiều khoái cảm. Nhưng cách dẫn dắt ý tưởng thì thật kỳ cục, đa phần trên dưới không thấy liên quan gì nhau, nếu chỉ nhìn nhan đề bài, nhìn câu đầu bài, rồi lật đến câu cuối bài, thì dễ tưởng lật nhầm trang. Thứ nữa, rất nhiều đối tượng được nhắc trong bài này lại thấy xuất hiện trong bài kia, ví dụ Ngày cá tháng Tư hay Mưa của Somerset Maugham, kiểu như cùng món nay mặn mai làm ngọt vậy.

Nhìn chung Đàn bà uống rượu không phải trường hợp đọc được mấy dòng rồi đáp đi không thương tiếc, chưa kể có những bài rất hay, ví dụ Mì ở phố cũ, giống miếng sa tế chưa tan còn lại ở đáy bát mỳ ăn liền.

Thắc mắc cuối cùng, tại sao Nguyễn Việt Hà không chọn tên tập sách là Đàn ông dở hơi?

 

 

 

Trong Đàn bà uống rượu xuất hiện kha khá thơ, lúc thì trích của Bảo Sinh, lúc thì Nguyễn Việt Hà bảo là ca dao hoặc ca dao hiện đại. Tôi đối với thơ một khiếu không thông, nhưng phải nhận rằng trong tạp văn của Nguyễn Việt Hà, những thơ ấy được hạ khá là lý thú. Hôm đọc đến câu “Gió xuân thổi lật yếm đào, sao trông thấy oản không vào thắp hương”, tôi đem treo lên twitter, Vô Công tiên sinh một người theo trường phái thơ hương tiêu của đất Hà thành mới kêu lên rằng thơ em hay thế. Tôi đính chính rằng đây là ca dao, tiên sinh lại cảm thán ôi ca dao mà cũng chuối nhỉ. Thơ trích dẫn trong Đàn bà uống rượu, những chỗ hạ lạc lý thú đa phần đều có vị hương tiêu như vậy. Chẳng hạn:

…Họ nhí nhảnh mặc áo rộng ngực bối rối cắn móng tay, rồi tự tin phong phanh đứng trước chồng hoặc người tình. Họ không biết rằng những gã đàn ông có thói quen xấu hay vượt đèn đỏ luôn ám ảnh hai điều đáng sợ “Sợ nhất công an chào ta. Về nhà sợ nhất vợ già khỏa thân” (thơ Bảo Sinh). (Thời gian ở phụ nữ)

… “Tiếc em cởi váy quá nhanh. Nếu em thong thả đã thành phu nhân.” Phu nhân thì chẳng quá hay nhưng hình như chưa bao giờ là quá tệ. (Thiếu nữ nhìn mưa)

%d bloggers like this: