Quyển thứ ba
PHÁ THÀNH QUYỂN
HÁN THỦY KINH ĐÀO[1]
Alex dịch
A Truật toan lên ngựa xuất phát, chợt thấy Lương Tiêu đang gom lượm tàn quân, dẫn dắt đồng đội phá vòng vây lao ra thì mừng rỡ vô cùng. Y vốn tin tưởng khả năng của Lương Tiêu, lập tức xuống ngựa, quay trở lại đài chỉ huy. Lúc này đội thuyền chiến của Đại Tống đã kết nối được với nhau, cùng ngược dòng tiến lên. Tướng Nguyên là Trương Hoằng Phạm điều động chiến hạm gắng sức ngăn cản. Thống soái thủy sư là Lưu Chỉnh thì dàn trận dọc hai bờ sông, khởi động nỏ pháo tấn công quân Tống, pháo nổ rền vang, tên bay tới tấp trên dòng Hán Thủy, ưu thế át hẳn địch nhân, khác xa tương quan giao chiến trên bộ.
Thủy quân Tống có chừng một ngàn thuyền chiến, nhưng không phải loại bề thế hay kiên cố gì cho lắm, chỉ có vài chiếc thuyền lớn, xem chừng chở nặng hàng vì mớn nước rất sâu, còn phần đông là thuyền nhẹ, nhìn kỹ có thể nhận ra là thuyền đánh cá cải tiến lại. Thoáng trông thì đội thuyền này không hề có dáng vẻ gì chung với một chiến đoàn thủy sư, tưởng như đánh một trận là tan, nhưng trận thế của chúng rất kỳ lạ, thoạt tiên thì giống vịt bầu xòe cánh, sau lại biến thành cá chép quẫy đuôi, đang giữ hàng ngũ hình vuông bỗng lại đổi sang hình tròn, vừa tiến lui vừa liên tục biến hóa. Mỗi lần Trương Hoằng Phạm xua quân tấn công, người Tống đều để mặc tiên phong của hắn tiến sâu rồi khép chặt hai cánh, cuốn mười mấy cỗ chiến hạm vào giữa trận, chặn đứng các thuyền theo sau bên ngoài, sau đó châm lửa bắn cung, tàn sát một hồi, đập tan hết các tàu chiến vừa bao vây được. Cứ thế, thủy quân Tống y hệt một con cá kình lớn, liên tục há miệng thè lưỡi cuốn nuốt thủy sư Đại Nguyên, dần dần áp sát mười sợi dây xích sắt chăng ngang dòng Hán Thủy.
Thình lình, một nam tử áo trắng giữa thủy trận Tống giơ cao lệnh kỳ. Lập tức một tráng hán lực lưỡng và một lão già tóc bạc chia nhau dẫn mấy mươi hán tử ăn bận nhôm nham cầm rìu ngồi thuyền nhẹ lao ra khỏi trận. Tráng hán rẽ trái, lão già rẽ phải, yểm hộ lẫn nhau, len lỏi giữa tên và đá của người Nguyên, chui xuống dưới xích sắt, vung rìu chém mạnh. Kim loại va nhau tóe lửa, tiếng nghechan chát. Chỉ thoáng chốc, mười sợi xích sắt đều bị chặt đứt. Đã trừ bỏ được chướng ngại trên dòng Hán Thủy, lính Tống hò reo vang dội, cấp tốc xông lên, thủy sư Tương Phàn cũng thừa thế theo dòng xuôi xuống, trong ngoài hợp sức tấn công quân Nguyên.
A Truật thấy tình hình không ổn, vội sai Trương Hoằng Phạm quay lên thượng lưu chống cự thủy sư Tương Phàn, lại ra lệnh khởi động pháo đài giữa sông để phá tan thủy trận của quân Tống.
Pháo đài này và dãy xích sắt chăng ngang sông là do quân Nguyên sắp sẵn từ năm ngoái. Dạo đó, sau khi chiếm được mặt nam Tương Phàn, để đề phòng người Tống cứu viện theo đường thủy, Bá Nhan đã ra lệnh cho quân sĩ lên núi Hiện Sơn kéo mấy chục vạn cân đá tảng xuống lòng Hán Thủy, xây thạch đài cao một trượng, trong đài đặt chín cỗ nỏ lớn và tám khẩu đại pháo, đồng thời đóng bảy tảng đá ngầm dưới lòng nước trước thạch đài và chăng mười dây xích dày nặng ngang sông, tạo thành một thủy trận đồ sộ, cho dù quân Tống có tàu lớn chịu được đạn đá cũng khó lòng tiếp cận thạch đài. Bá Nhan sắp xếp như thế là đã chặt chẽ hết mức. Tống tuy mạnh về thủy chiến hơn Nguyên, nhưng bắt đầu từ năm ngoái, họ đã nhiều lần bị trận thế này ngăn chặn, không thể vào tiếp viện Tương Phàn.
Được lệnh của A Truật, binh sĩ trên đài lập tức khởi động nỏ pháo. Tên lớn và đá tảng vùn vụt bay ra, bắn nát thuyền tiền bộ của quân Tống, lính Nguyên reo hò ầm ĩ.
Lương Tiêu chỉnh đốn đám bại binh, ra lệnh cho họ chặn giữ những chỗ hiểm yếu để đề phòng quân Tống trong thành ra phối hợp tác chiến. Chợt nghe ngoài sông có tiếng hò la rung chuyển trời đất, không biết đang xảy ra chuyện gì, lại đoán chắc là sau đợt giao tranh vừa rồi, Lữ Đức tạm thời chưa dám tái xuất kích ngay, gã bèn dặn dò các Bách phu trưởng ai trông nom bộ hạ người nấy, còn mình và Dương Giác thúc ngựa về soái đài bẩm báo tình hình thiết kỵ Khâm Sát với A Truật, tiện đường xem xem thủy chiến ra sao.
Khi Lương Tiêu tới nơi thì cũng là lúc pháo đài giữa sông đang nhả đạn, thuyền Tống trúng phải vỡ tan tành. Lương Tiêu lên gặp A Truật. Nghe thuật lại sự tình, A Truật không khỏi buồn rầu, nhưng đang lúc thủy chiến kịch liệt, không tiện nói nhiều, y chỉ vỗ vai Lương Tiêu, gật đầu bảo:
- Được rồi, may mà có ngươi…
Thình lình ngoài mặt sông, tuyến tiên phong của quân Tống thụt xuống, trận thế chuyển thành dàn hàng dọc, trườn tới như rắn, miệng rắn há to, lúc ngậm lúc ngoác, biến đổi vô cùng nhanh chóng và phức tạp, khiến cho không chỉ đạn đá của Lưu Chỉnh từ hai bờ sông khó chạm tới nơi, mà pháo đài phía trước cũng toàn bắn trượt. Lương Tiêu chăm chú quan sát, đoạn ngạc nhiên thốt lên:
- Thủy cầm ngư long trận!
A Truật ngẩn người, vội hỏi:
- Ngươi biết trận thế này ư?
Lương Tiêu gật đầu:
- Nguyên lý của nó dựa trên ngũ hành, hình thế mô phỏng các động vật như thủy điểu, rùa rắn cá cua, phần tiên phong biến hóa rất ảo diệu, lúc thì như mồm cá, lúc thì như miệng rắn, mỏ chim, dần dần nuốt chửng binh mã đối phương rồi dùng quân tinh nhuệ ở tâm trận đón đánh tiêu diệt. Trước đây tôi đã từng đọc về các biến thể của trận này trong cuốn Ngũ hành thuyên binh[2], nhưng đây là lần đầu chứng kiến ứng dụng thật. Sách còn chú thích: “Thủy cầm ngư long biến hóa tương đối chậm, phù hợp với thủy chiến quy mô lớn hơn là giao tranh thần tốc trên bộ”.
A Truật không hiểu gì về toán số ngũ hành, nay nghe Lương Tiêu thuật lại những lời hàm ẩn trí tuệ cao siêu của các bậc hiền triết trung thổ thì cố nhiên chưa thể nắm bắt được hoàn toàn ý nghĩa, nhưng nghe điều Lương Tiêu mô tả cũng tương đối sát với hiện trạng thì mừng rỡ hỏi:
- Thế có phép phá nó không?
Lương Tiêu nhìn lại trận thế quân Nguyên rồi lắc đầu:
- Tiên phong của họ biến hóa khôn lường, không thể giao đấu chính diện, chỉ còn cách đánh vu hồi vào phía sau kẻ địch mới tìm được cơ hội phá trận. Nhưng hiện giờ thủy sư bên ta đã lui lên thượng du, khó lòng xuôi xuống đánh vòng lại nữa. Cũng may mà còn thạch đài ở giữa sông, đài ấy là đủ để chống đỡ rồi.
Gã vừa dứt lời, chợt thấy hai mươi chiếc khoái đĩnh tách khỏi thủy trận quân Tống, nhanh chóng tản rộng thành hình rẻ quạt, phóng vun vút tới như sắp lao thốc lên thạch đài. Quân Nguyên đâu để kẻ địch hoành hành ngang ngược, nã đạn đá veo véo, lập tức bắn chìm hai chiếc.
Chỉ trong khoảnh khắc, tốp thuyền chiến đã tiêu hao quá nửa. Lương Tiêu bỗng cau mày, lòng gờn gợn nghi ngại:
- Gớm thật, minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương đây mà!
A Truật không biết điển cố ấy, nghe vậy kinh ngạc hỏi:
- Là sao?
Lương Tiêu trỏ về phía sau tốp khoái đĩnh:
- Đại nhân trông kìa!
A Truật dõi mắt nhìn kỹ thì thấy một con thuyền lớn chở máy bắn đá lặng lẽ trôi theo sau toán thuyền nhẹ, thừa lúc đối phương dồn hết sự chú ý vào những chiếc thuyền phía trước thì cấp tốc áp sát thạch đài. Khi tới gần, một người vận đồ trắng, tay cầm sào tre từ sau khoang đi ra, chính là nam tử áo trắng vừa xua quân biến trận. Thân pháp y lanh lẹn vô cùng, vụt một cái đã bật cao hơn năm thước, nhảy lên cỗ máy bắn đá. Khi y điểm chân xuống, năm tên lính Tống đồng thời bật lẫy, người áo trắng lập tức bắn vút đến thạch đài như một mũi tên. Lương Tiêu đã nhìn rõ tướng mạo địch nhân, giận dữ kêu lên:
- Hắn!
Người áo trắng chính là Vân Thù chứ nào phải ai xa.
Vân Thù tận dụng đà bắn của cỗ nỏ, băng qua khoảng không lao tới. Quân Nguyên cùng bất ngờ trước cách thâm nhập ấy, ai nấy kinh ngạc bội phần, nhao nhao hò hét. Trên dãy chiến thuyền phòng vệ quanh đài, các xạ thủ Nguyên triều đang giương sẵn cung chuẩn bị tiếp đón toán khoái đĩnh, lúc này liền chuyển hướng trút tên ào ạt vào Vân Thù.
Vẫn ở trên không, Vân Thù múa tít cây sào tre tạo thành một tấm khiên lớn chu vi đến ba trượng, tầng tầng dày đặc, tên bị chặn rơi hết xuống sông. Tuy thế, do độ nảy của máy bắn đá quá cạn, Vân Thù đã dùng hết sức bật mà vẫn khó lòng bay xa, lại bị làn tên cản trở làm chậm đà lao, chỉ còn cách thạch đài chừng năm trượng mà không sao tiếp tục được, gã rớt xuống sông. Nơi này nhiều đá ngầm lô xô nên dòng chảy xiết vô cùng, người vừa chạm nước là lập tức bị cuốn phăng xuống hạ du. Quân Tống thấy sắp thành công rồi mà còn thất bại, thảy đều thốt lên thất vọng, quân Nguyên thì hoan hô rầm rĩ, chấn động cả mặt sông.
Đúng lúc chạm nước, Vân Thù phóng ngang cây sào tre, cộng thêm chiều dài của cánh tay là vừa vặn chạm tới rìa đài. Gã đẩy mạnh nội kình, cây sào thụ lực oằn lại. Vân Thù mượn sức đàn hồi lộn một vòng, bật lên cao lần nữa, khẽ lắc mình là đã đến được khoảng không bên trên thạch đài. Trước khi đáp xuống, gã vung sào quật ngã hai tên lính Nguyên. Ở đài này, ngoài đám pháo binh thì còn hơn hai mươi vệ binh, trông thấy Vân Thù liền tuốt đao giương mâu rầm rập lao đến tấn công gã.
Vân Thù hét vang, giơ sào nghênh đón, xông xáo như hổ giữa đàn dê. Binh khí tuy chỉ là một cây sào, nhưng vào tay gã thì khác nào trường thương đại mâu. Vân Thù đánh giết dữ dằn, máu địch nhân nhuộm đỏ lòm tấm áo trắng. Thời gian chưa cạn một tuần trà, binh lính trên thạch đài đã bị tiêu diệt quá nửa. Quân Tống thấy không còn đạn pháo uy hiếp nữa, bèn đổi sang Thủy xà hình ngược dòng tiến lên.
Trương Hoằng Phạm vội phái thuyền chiến đến giành lại pháo đài, vừa áp sát vừa trút tên dày đặc về phía Vân Thù. Không ngờ đá tảng chất đống vốn để nạp pháo và bắn nỏ trên đài lúc này lại trở thành bình phong cho Vân Thù. Gã lẩn vào sau đống tên đá, hễ thấy người tới nơi là xông ra giết chết. Liên tục mấy lần như thế, đội thuyền Tống đã đến được gần thạch đài, thủy sư Tương Dương cũng sấn sổ lao vào chém giết, quân Nguyên bị giáp kích hai mặt, chống đỡ rất gian nan.
A Truật không ngờ bên Tống lại có một nhân vật lợi hại dường ấy, càng ngẫm càng kinh ngạc. Lúc này, thạch đài đã bị chiếm cứ, đành quyết một trận sống mái chứ không còn lựa chọn nào khác. Y khua lệnh kỳ, chiêng trống nổi lên vang rền, trợ uy cho thủy quân. Chợt Dương Giác kinh hãi kêu to:
- Lương đại ca!
A Truật giật mình, nhìn theo hướng mắt Dương Giác thì thấy Lương Tiêu đang cưỡi chiến mã phi như bay dọc bờ sông, A Truật ngạc nhiên hỏi:
- Hắn định làm gì vậy?
Dương Giác nói:
- Tên áo trắng nọ là cừu nhân của bọn thuộc hạ, hắn đã đón đường tấn công đội lương, giết chết huynh đệ của thuộc hạ.
- Ra thế! – A Truật nhíu mày.
Trong lúc họ nói chuyện, Lương Tiêu đã tế ngựa chạy xa hơn ba trăm trượng, thình lình gã xoay phắt mình, thúc ngựa lao thẳng lên con dốc cao trên bờ sông. Mọi người nhìn theo không hiểu ý định ra sao, chỉ thấy gã lại đột ngột giật cương xoay ngựa phóng thốc xuống mí nước, gò vàm múa roi. Chiến mã Khâm Sát đau đớn hí dài, giậm mạnh vó sau, chồm mình lướt qua đỉnh đầu đám lính Nguyên bên bờ sông, phi vụt xuống dòng Hán Thủy.
Trong các loài bảo mã từ cổ chí kim thì Đại Uyển[3] và Nguyệt Chi[4] là hai giống thượng phẩm. Quốc đô sản sinh ra chúng cùng nằm trong lãnh địa Khâm Sát. Sử Ký chính nghĩa[5] chép: “Xứ ngoài[6] có ba nước gọi là đông, Trung Quốc[7] đông dân, Đại Tần[8] đông của, Nguyệt Chi đông ngựa”. Những giống danh câu tuyệt thế như hãn huyết, yên chi… đều xuất xứ từ Khâm Sát. Con ngựa Lương Tiêu đang cưỡi là ngựa tuyển trong muôn vàn, khỏe khoắn và dũng mãnh, lại lao từ tầm cao xuống, được đà băng đi trên mặt nước đến mười trượng, đáp xuống một thuyền chiến của quân Nguyên. Chiếc thuyền bị lún mạnh, suýt nữa lật sấp, lính thủy mất thăng bằng, nhốn nháo ngả nghiêng. Lương Tiêu không dừng lại, tiếp tục tế ngựa nhảy sang thuyền khác. Cứ thế, gã biến thuyền chiến của cả quân Tống và quân Nguyên làm điểm tựa đặt chân, thúc ngựa phi nước đại như trên đất bằng, chỉ thoáng chốc đã tới được thạch đài giữa dòng sông. Thủy sư của cả hai bên thấy vậy, kẻ hoảng hốt người vui mừng, tiếng la ó xen lẫn tiếng reo hò ồn ã.
Vân Thù đang giao đấu kịch liệt, vừa phóng cây sào đâm xuyên táo qua họng hai tên lính thì nghe có tiếng vút rất buốt tai, bèn ngoái đầu lại nhìn, thấy bóng tối đổ sầm xuống trước mắt, rồi một con ngựa chiến xé gió bổ nhào tới. Vân Thù vội vàng vặn mình, phóng cây sào đâm thủng bụng ngựa. Chiến mã hí vang đau đớn, rơi thình xuống.
Lương Tiêu nhún một tay xuống lưng ngựa, lấy đà bật khỏi yên cương, tay kia nhấc trường thương nhảy xổ vào Vân Thù. Vân Thù đẩy sào sang, Lương Tiêu xoay nghiêng mình tránh được, rung tít hoa thương gạt cây sào rồi phóng thương đâm Vân Thù.
Thấy thương pháp tuyệt diệu quá, Vân Thù ngạc nhiên nhìn kỹ đối phương, chợt tái người vì giận, thét to:
- Quân ác tặc, lại là ngươi!
Gã trở ngang sào đỡ ngọn thương rồi thi triển tuyệt kỹ chống trả. Kỳ phùng địch thủ gặp nhau, bốn mắt đỏ vằn, cùng vận dụng hết bản lĩnh lăn xả vào đấu đá.
Trương Hoằng Phạm thấy đã có người kiềm chế được Vân Thù, liền bất chấp sự sống chết của Lương Tiêu, lập tức sai thuộc hạ bắn tên giành lại thạch đài. Hai đấu thủ đành đình chiến lo né tránh. A Truật kíp truyền lệnh dừng bắn. Trương Hoằng Phạm hết sức ngạc nhiên, nhưng cũng đành vâng theo. Mưa tên đã tạnh, Lương Tiêu và Vân Thù lại lao vào nhau, bóng sào lay láy, ảnh thương trập trùng, song phương tiến thoái nhanh như chớp, binh lính hoa cả mắt, hò hét vang trời để trợ uy đấu sĩ bên mình.
Đấu được hai ba mươi hiệp, vì sào tre to dài mà thạch đài lại quá hẹp, Vân Thù xoay trở tương đối khó khăn. Cây hoa thương thì vô cùng linh động, chiếm hẳn ưu thế về chiêu số, hiềm nỗi Lương Tiêu bị nội thương chưa khỏi, kình lực giảm sút, hai bên tạm thời không phân thắng bại.
Trong lúc Vân Thù đánh chiếm thạch đài, Cận Phi thay gã chỉ huy thủy chiến. Vì đã luyện tập Thủy cầm ngư long trận nhiều lần, lại đang đà thượng phong, y cũng gượng ứng phó được một lúc, nhưng dần dần, sau mấy đợt bị quân Nguyên xuôi dòng đánh tỉa, trận pháp bắt đầu chệch choạc. Phương Lan vội ngồi thuyền nhẹ đến gần thạch đài, gọi với vào:
- Thù nhi về mau, sư huynh ngươi không cầm cự nổi nữa rồi.
Vân Thù nghe gọi giật mình, đâm nhanh vài nhát đẩy lui Lương Tiêu, đoạn nắm đầu sào chống mạnh xuống đất, thân sào oằn lại rồi bật đánh “tưng”, Vân Thù mượn sức đàn hồi bắn đi xa chừng mười trượng, đáp xuống thuyền Phương Lan. Lương Tiêu thiếu dụng cụ tương tự, không thể nhảy theo, cứ giương mắt ngó địch thủ rút chạy, nghĩ ngợi một hồi, định dùng nỏ pháo để truy kích, khốn thay Vân Thù đã dùng nội kình đập gãy hết các lẫy bắn, trong lúc gấp gáp không sao sửa chữa kịp.
Vân Thù trở về bên quân Tống, nổi trống biến trận. Đội thuyền tiên phong chia làm hai toán, tạo thành Song đầu ngao hình[9], vòng qua thạch đài tiến dần lên. Lương Tiêu lăm le nhảy xuống thuyền quân Tống, nhưng Phương Lan đã đề phòng sẵn, ra lệnh cho các tay cung nỏ liên tục bắn cản. Lương Tiêu thử mấy lần đều không áp sát được, phủ tạng bắt đầu ngâm ngẩm đau, máu trào lên họng lờ lợ, gã biết nội thương tái phát, đành co mình nấp vào sau đống đạn đá, thở lấy sức.
Trong tiếng chiêng trống vang lừng, người Tống vòng qua thạch đài, hai tốp thuyền nhập lại làm một, biến thành Tê tượng hình[10] với mũi tiên phong nhọn sắc và hai cánh vững vàng. Chỗ tinh diệu của biến thể này là đi qua rồi không để lại vết tích, hệt như tê giác rẽ nước, có thể nói là phần biến hóa lợi hại nhất trong Thủy cầm ngư long trận, mau chóng làm rối tung đội ngũ Nguyên triều, đưa thuyền Tống ngược dòng tiến thêm hai dặm, nhập vào thủy sư Tương Phàn. Hai đạo quân hợp nhất, sức mạnh và uy thế tăng cao bội phần.
Lữ Đức đứng trên đầu thành quan chiến, thấy vậy mừng rỡ vô cùng, phát hiệu thừa thắng tấn công, định tiêu diệt toàn bộ thủy quân Đại Nguyên, phá sạch vòng vây ở mặt nam Tương Phàn. Chiêng trống liền nổi lên rầm rĩ, vị trí hai bên thay đổi, đến lượt quân Tống theo dòng đánh xuôi xuống, quân Nguyên không chống đỡ nổi, thất bại lùi về hạ du.
Trước thế nguy, A Truật ra lệnh cho Lưu Chỉnh pháo kích từ hai bờ sông, nhưng không hiệu quả, đành phái người về trướng soái cấp báo. Bá Nhan hay tin, một mặt cùng A Lý Hải Nha dẫn kỵ binh giáp kích Tương Dương, mặt khác phái Sử Thiên Trạch dẫn thủy quân từ thượng du tràn xuống tấn công quân Tống, buộc thủy sư Tương Phàn phải quay lại cứu viện.
Lữ Đức lập tức truyền lệnh cho binh sĩ bảo vệ chặt chẽ thành trì, lại kê giàn pháo hướng ra sông, bắn xả xuống quân đoàn của Sử Thiên Trạch, đồng thời bày binh bố trận trên cầu nổi giữa hai thành, dùng nỏ pháo tấn công kẻ địch. Trong đợt phản công này, quân Tống sử dụng Phi hỏa thương và Chấn thiên lôi, hai thứ vũ khí khiến quân Nguyên táng đởm kinh hồn. Phi hỏa thương là loại thương chứa thuốc nổ trong ruột rồi châm lửa, bắn xa đến hơn mười trượng, có thể xuyên thủng cả khôi giáp. Chấn thiên lôi là ống bơ sắt đổ đầy thuốc nổ, châm lửa ném ra, có thể làm banh xác cả người và vật trong phạm vi nửa mẫu xung quanh. Giữa những âm thanh ùng oàng như sấm vang động mặt sông, mấy chục vạn binh lính thủy bộ hai bên bất chấp sống chết, lăn xả vào nhau quần thảo dữ dội.
Thủy quân của Sử Thiên Trạch phải chống đỡ khắp ba mặt, thuyền bè bị Chấn thiên lôi bắn vỡ nát. Sử Thiên Trạch bất đắc dĩ phải rút lui lên thượng du. Thủy quân Tương Phàn trừ bỏ được mối lo sau lưng, liền xuôi dòng tổ chức tấn công thần tốc, đập tan rã binh đoàn của Trương Hoằng Phạm.
Quân Nguyên sắp thất bại hoàn toàn, chợt một tiếng nổ lớn phát ra từ pháo đài giữa sông, rồi một hòn đạn khổng lồ rớt bùm xuống giữa thủy trận Tống, đánh chìm một chiến thuyền. Quân Nguyên phấn chấn ngoảnh nhìn thạch đài thì thấy Lương Tiêu đang gồng lực kéo lẫy nỏ đẩy tiếp một hòn đạn nữa, đánh thủng thuyền khác của quân Tống.
Số là nhân lúc đôi bên đại chiến, Lương Tiêu đã đi xem xét tình hình nỏ pháo tổn thất ra sao. May thay Vân Thù mới hủy các lẫy nỏ chứ chưa kịp phá hỏng những bộ phận khác. Vốn nhạy bén với các cơ cấu máy móc, Lương Tiêu lập tức nhặt đao cắt gọt đôi hồi là sửa xong một cỗ nỏ pháo, lắp tên đá khởi động lại. Trương Hoằng Phạm liền phái mấy chục tên lính bơi thuyền đến thạch đài hỗ trợ Lương Tiêu.
Vân Thù bèn dùng cách cũ, biến đổi trận pháp định áp sát thạch đài lần nữa. Lương Tiêu làm ra vẻ không hay biết, mặc gã đến gần mới khai hỏa, bắn vỡ tan chiếc thuyền khiến Vân Thù và bọn đi theo ngã dúi dụi xuống nước. Vân Thù vội lặn sâu xuống, nhưng đạn đá truy đuổi đã tới nơi, bật trúng lưng làm gã hộc máu mồm. Phương Lan vội vàng phái mấy chiến thuyền liều chết len vào cứu. Vân Thù bị thương khá nặng, đành phải quay về trận, Lương Tiêu thấy địch thủ thoát chết trong gang tấc thì giậm chân than tiếc luôn miệng.
Lúc này, Trương Hoằng Phạm đã chỉnh đốn tàn quân, tổ chức một đợt tấn công mới. Thủy chiến kịch liệt trải khắp mặt sông. Lương Tiêu chữa xong tất cả nỏ pháo rồi đứng chỉ huy, mười mấy cỗ nỏ lớn và đại pháo cùng khai hỏa một lúc, bắn tan tành thuyền chiến của đối phương. Quân Nguyên phấn khởi, cất tiếng hò reo theo mỗi đợt tên pháo, khí thế rất rầm rộ. Lữ Đức thấy tình hình không ổn, ra lệnh cho thủy quân rút về. Trương Hoằng Phạm đuổi đến dưới chân hai tòa thành mới hậm hực thu binh.
Trận ác chiến diễn ra từ sáng sớm tới tận lúc mặt trời lặn về tây, thủy bộ của hai bên đều xuất quân, lúc thắng lúc thua, mấy lần đảo chuyển. Kể từ dạo bắt đầu vây hãm Tương Phàn tới nay, quân Nguyên chưa từng tổn thất nặng nề đến mức này. Đội thiết kỵ Khâm Sát của Hợp Xuy Man và đội thủy sư người Hán của Trương Hoằng Phạm thường mang danh là thủy lục song hùng của Nguyên quân, hôm nay đều thất bại thảm hại, riêng Khâm Sát quân còn mất trắng ba Thiên phu trưởng dưới chân thành Tương Dương. Người Tống tuy cũng sứt mẻ lực lượng, nhưng Vân Thù đã cắt đứt được dãy xích chăng ngang sông, đưa một nghìn con thuyền xông phá trùng vây, vận chuyển vô số khôi giáp lương thảo và dụng cụ phòng thủ vào thành, có thể nói tổn thất cũng xứng đáng, tính ra quân Nguyên vẫn thiệt hại nhiều hơn.
Từ hồi Bá Nhan lĩnh ấn nguyên soái tới nay, quân Tống ở Tương Phàn thua trận liên miên, tinh thần bải hoải, đến hôm nay mới cảm thấy được bù đắp phần nào. Trông thấy Trương Hoằng Phạm rút quân, binh sĩ trên thành hò reo ầm ĩ. Lữ Đức mặc nguyên giáp sắt, phấn khởi ra ngoài thành nghênh đón, gặp Cận Phi thì níu tay cười lớn:
- Hay quá, mong mỏi mãi cuối cùng tiếp viện cũng đến! Ngươi là thuộc hạ của ai mà bản lĩnh thế?
Cận Phi vòng tay thi lễ:
- Chúng tôi không thuộc quân đội chính quy, chỉ là nghĩa quân do Lý Đình Chi đại nhân chiêu mộ mà thôi.
Lữ Đức ngẩn người, nhíu mày bảo:
- Thảo nào trong đội ngũ các ngươi còn lẫn cả thuyền chài. Chà, Phạm Văn Hổ và Hạ Quý có mười vạn tinh binh và hàng ngàn chiến hạm mà chẳng làm nên công cán gì. Lần trước họ đến tiếp viện, vừa giao chiến với quân Thát, mới yếu thế một chút là vội vã tháo chạy luôn, khiến binh sĩ của ta kẹp giữa hai mặt địch, bị A Truật đánh cho tơi tả. Quân hèn nước nhục đến thế là cùng! – Y thở dài, lại hỏi. – Tình hình hậu phương ra sao?
Cận Phi chưa kịp trả lời, Vân Thù đã cười nhạt xen vào:
- Có bài từ mô tả đây.
Lữ Đức ngạc nhiên:
- Mô tả thế nào?
Vân Thù hắng giọng đọc:
Tương Phàn bốn hạ nổi can qua, bặt tiếng tiều ca, bặt tiếng ngư ca.
Thành lũy lao đao chẳng còn xa, kho đụn tiêu ma, lương thảo tiêu ma.
Đế đô mê mải khúc tỳ bà, nhắm mắt làm ngơ, ngoảnh mặt làm ngơ.
Cầm ca rộn rã nhịp mau thưa, quốc nạn ơ hờ, dân nạn ơ hờ.[11]
Bài từ lên án sự trụy lạc cuồng hoan của đám quyền quý nơi triều dã trong khi tiền tuyến đang lâm cảnh lửa bỏng nước sôi. Vân Thù đọc xong, không gian bỗng tĩnh lặng đến nỗi nghe thấy cả tiếng lá rơi trên cầu nổi. Từ Lữ Đức trở xuống, tướng sĩ Tương Phàn không ai là không lộ vẻ tuyệt vọng bi phẫn.
Cận Phi thấy tình hình không ổn, bèn giận dữ mắng:
- Bài từ bóp méo sự thật đó chẳng qua là lời ca cẩm rỗi hơi của một tên văn nhân nửa mùa, vốn chẳng đáng tin, sao đệ lại đọc ra để gây rối loạn lòng quân?
Vân Thù hừ khẽ, quay mặt đi. Lữ Đức lắc đầu:
- Thôi, sự thực thế nào thì chẳng hỏi cũng biết, ngươi đừng trách cứ nữa. – Y đưa mắt nhìn khắp đám hào kiệt. – Các vị có vài ngàn người mà lập được công lao không kém gì mấy vạn quân, thật đáng kinh ngạc, thật đáng khâm phục! Phụ lão Tương Phàn cảm kích khôn xiết. Xin nhận của Lữ mỗ một lạy.
Y chực cúi xuống vái, Cận Phi giật mình vội tiến đến đỡ dậy:
- Đại nhân đừng làm thế. Ngài tử thủ Tương Phàn, bảo vệ được hai tòa thành nhỏ bé trước vài chục vạn quân Nguyên, đó mới thực là đáng kinh ngạc, đáng khâm phục.
Lữ Đức cũng chỉ làm bộ thế thôi, thực ra đã biết nhất định đối phương không để mình phải quỳ xuống, y bèn nhân thế đứng dậy cười lớn, truyền lệnh thết yến mừng công. Lần này nghĩa quân đưa đến rất nhiều y giáp gạo lương, bách tính trong thành mừng vui khôn tả, bèn đốt pháo hoa vui vẻ một phen.
Trong khi đó, bên đại doanh Khâm Sát tiếng khóc tiếng hờ váng trời. Quân Nguyên đổi xác quân Tống lấy di thể Hợp Xuy Man và đồng đội đưa về. Hơn hai ngàn hán tử Khâm Sát ôm di thể bấy nát của đồng hương khóc rưng rức. Lương Tiêu buồn rầu vô hạn, không chịu đựng nổi bèn rời doanh trại đi lang thang. Sực nhớ đến nghĩa muội, gã định lại trướng A Lý Hải Nha thăm nom, vừa lúc thân binh của A Truật đến truyền gã lên trướng soái.
Lương Tiêu cưỡi ngựa vào trung quân, nơi đóng đại trướng, thấy mười mấy vị Lạt ma đang ngồi xếp bằng ở khoảng đất trống trước trướng, tay xoay ống chuyển kinh, miệng niệm kinh văn, xung quanh thắp mấy chục ngọn đèn cháy bằng mỡ, khói tỏa lên mùi thơm là lạ. Lương Tiêu đã từng chứng kiến cảnh lễ nghi tương tự, biết rằng họ đang siêu độ cho các vong linh, bất giác nghĩ thầm: “Người chết rồi còn có hồn phách thật chăng? Nếu thế, cha hay Tam Cẩu Nhi ở trên trời vẫn nghe được tiếng ta, trông thấy mặt ta đấy nhỉ?”. Nghĩ đi nghĩ lại, biết chuyện quỷ thần chỉ là hoang đường, gã buồn rầu thở dài, đi vào trong trướng.
Trướng rất rộng, thắp hai cây nến đại bằng mỡ bò mà vẫn chưa đủ sáng. Những người có mặt đều là hạng trọng thần, đại tướng. Tất cả đang ngồi xếp bằng. Lương Tiêu bước vào mà không một ai liếc mắt nhìn. Lương Tiêu bái chào, Bá Nhan gật đầu bảo:
- Chỗ ngươi phía sau hỏa giả Lan Á!
Lương Tiêu đưa mắt tìm, thấy Lan Á ngồi hàng cuối cùng bên trái, cạnh nàng là một lão già người Hồ râu tóc đen nhánh, mắt xanh nước biển, đầu quấn khăn trắng, vận tấm trường bào cũng trắng như tuyết. Bắt gặp ánh mắt gã, mặt nàng lạnh băng. Lương Tiêu im lìm ngồi xuống.
Mọi người im lặng hồi lâu, không khí trong trướng thật nặng nề. Cuối cùng, Bá Nhan chậm rãi lên tiếng:
- Hôm nay xích sắt đã đứt, quân cứu viện đã vào thành, Tương Phàn đã củng cố được lực lượng. Các ngươi còn gì để nói không?
A Truật bước ra khỏi hàng:
- Đều do thuộc hạ chỉ huy không đến nơi đến chốn, xin nguyên soái trách phạt!
Bá Nhan hừ mũi:
- Nhóm Trương Hoằng Phạm thất bại thì còn đi một nhẽ. Bởi đối phương bày trận thế kỳ lạ, ngươi chưa gặp bao giờ, kể cũng khó lòng phá giải. Nhưng Khâm Sát doanh thì sao? Đám khỉ mắt xanh đó được ngươi nuông chiều thái quá, biến thành giống cứng đầu cứng cổ hết rồi! Lại được cái tên Hợp Xuy Man kia, đường đường là Thiên phu trưởng mà hồ đồ nông cạn, chẳng thèm động não cứ xông thẳng vào thành địch. Nếu Tương Dương dễ hạ như thế, việc gì đại quân ta phải hao tâm tổn sức ngần ấy tháng năm? Hắn tưởng hắn là ai, là Thành Cát Tư Hãn ư?
A Truật nín thinh, không phân trần được một tiếng, mồ hôi túa ra đầm đìa. Sử Thiên Trạch đứng lên bước ra khỏi hàng:
- Đại nguyên soái, thứ cho Sử mỗ tham gia đôi câu. Chiến binh Khâm Sát tuy ngang tàng, nhưng đó cũng là ưu điểm của họ. Khí thế lẫm liệt dữ dằn có thể giúp quân ta áp đảo nhuệ khí đối phương, đôi khi không cần đánh cũng tiêu diệt được địch thủ. A Truật đại nhân thuận theo họ, cốt để giữ gìn khí thế ấy.
Bá Nhan trầm tư một thoáng rồi gật đầu:
- Ông nhận xét cũng có lý! A Truật đứng lên đi!
A Truật khẽ khàng lui về chỗ. Bá Nhan nói:
- Binh thư người Hán có câu: kiêu binh tất bại. Tuy không chính xác hoàn toàn, nhưng cũng có chỗ đúng. Binh lính có thể kiêu ngạo, nhưng tướng quân thì phải trầm tĩnh. Binh sĩ xung phong giết địch, đôi khi bộp chộp xốc nổi, nhưng tướng quân luôn phải cân nhắc cho kỹ, lọc từ cảnh hỗn loạn ra cơ hội chiến thắng địch nhân.
A Truật gật đầu vâng dạ. Bá Nhan tiếp:
- Hiện thời Khâm Sát doanh còn lại bao nhiêu quân?
- Theo như Bách phu trưởng Lương Tiêu điểm danh, còn hai ngàn hai trăm ba mươi sáu người.
Bá Nhan lộ vẻ suy tư:
- Bây giờ đại quân đang đổ về tập kết, binh mã của ngươi sẽ càng ngày càng đông, chắc chắn chăm lo không xuể. Ngay như hôm nay nếu ngươi rảnh tay, đích thân thống lĩnh thì làm gì Khâm Sát doanh thất bại nặng nề đến thế? Tuy vậy tục ngữ có câu: khu nào quan lang ấy! Ngươi thử tìm ai đó thích hợp để dẫn dắt bầy khỉ đó xem!
A Truật máy môi, nhưng không nói ngay. Bá Nhan nhìn khắp các tướng, nhắc lại:
- Ai chỉ huy được Khâm Sát doanh?
Trong trướng im phăng phắc. Sử Thiên Trạch chợt đằng hắng:
- Khâm Sát doanh ỷ công to nên kiêu ngạo, xưa nay chẳng coi dị tộc ra gì. Tướng lĩnh Sắc Mục và tướng lĩnh Mông Cổ bình thường đều không thể khiến họ vâng phục. Chỉ những bậc anh kiệt công trùm vũ trụ như nguyên soái hay A Truật đại nhân mới cầm cương họ được.
A Truật nói ngay:
- Cũng không hẳn, thiết kỵ Khâm Sát tuy ngạo mạn nhưng trọng nghĩa khí và luôn khâm phục kẻ mạnh. Đối với một người đã dùng bản lĩnh chế ngự được họ, rồi lại có ơn cứu mạng cả đội, thì việc điều khiển dẫn dắt họ dễ như trở bàn tay thôi.
Không gian lặng ngắt, mọi ánh mắt đổ dồn vào Lương Tiêu. A Truật đứng dậy cất giọng rành rọt:
- Thuộc hạ đài cử Bách phu trưởng Lương Tiêu đảm nhiệm chức thống soái Khâm Sát doanh.
Lương Tiêu kinh ngạc. Trong trướng ồn ào. Tướng quân A Lạt Hãn cố nói to cho át những tiếng xôn xao:
- Không ổn đâu! Hắn mới đến vừa đầy một tháng thôi mà.
Lưu Chỉnh góp lời:
- Hắn chưa từng trải việc quân, hôm nay lập được đại công thật đấy, nhưng e rằng còn hơi đuối so với chức thống soái.
Sử Thiên Trạch cũng tỏ ra đăm chiêu:
- Đúng, hắn còn ít tuổi, khó tránh xốc nổi.
Ngoài A Truật và A Lý Hải Nha, hầu như ai cũng lắc đầu quầy quậy. Nguyên do rất đơn giản, các tướng đã lăn lộn biết bao chiến trận, tạo lập vô vàn công lao mới giành được địa vị hôm nay. Lương Tiêu chẳng qua chỉ là kẻ mới đến, luận về thành tích thì thậm chí không đáng xách dép cho bọn họ, căn cứ vào đâu mà nghiễm nhiên bước lên ghế thống soái của đội kỵ binh tinh nhuệ nhất Đại Nguyên? Làm gì có chuyện cá chép nhảy một bước thành rồng, tốt đen bỗng chốc bằng vai phải lứa với các danh tướng trọng thần? Không ai chấp nhận nổi.
A Truật đợi cho những tiếng ồn ào huyên náo lặng hẳn mới cười nhạt bảo:
- Thế đấy! Các ngươi đều phản đối, vậy ta xin hỏi: ai đột phá được trùng trùng vòng vây của ba ngàn chiến binh Khâm Sát chỉ với sức sáu người? Ai có thể khiến một quân đoàn đang suy sụp phấn chấn tinh thần trở lại? Ai đủ kiến thức để nhận ra trận pháp hôm nay của thủy sư nhà Tống? – Y nhìn Lan Á, mỉm cười. – Và ai bắn đứt được sợi dây vàng xâu chuỗi ngọc ở cách xa một trăm bộ?
Lan Á liếc nhanh Lương Tiêu, khuôn mặt trắng trẻo hằn sắc giận.
Trong trướng lặng ngắt như tờ, mọi người đưa mắt nhìn nhau, giọng A Truật vang lên rõ ràng:
- Nếu có người tự nhận làm được hai trong ba điều đó thôi, ta xin thu lại những lời lúc trước.
Trong trướng vẫn lặng ngắt. A Truật nhìn xoáy vào mặt từng người, cặp mắt sáng quắc:
- Dân Hán có câu: cốt nên đại sự, đừng nệ tiểu tiết. Muốn đánh bại người Tống thì phải nghĩ thoáng ra, chớ ngủ quên trên quá khứ. Các ngươi nam chinh bắc chiến đã nhiều, lập được vô khối công lao, hôm nay chẳng phải cũng thua trận đấy ư? Hồi ta làm Vạn phu trưởng, tuổi chỉ xấp xỉ Lương Tiêu bây giờ, nhưng thành tích có kém sút chút nào so với các ngươi không?
Đám tướng lĩnh im bặt, Bá Nhan cau đôi mày rậm, ngẫm nghĩ một lúc rồi lên tiếng:
- A Truật nói đúng! Ta đồng ý! – Y nhìn sang mé bên, giọng sang sảng. – Lương Tiêu nghe lệnh!
Lương Tiêu đứng dậy. Bá Nhan nói:
- Ngươi tạm giữ quyền Vạn phu trưởng Khâm Sát! Nếu làm việc mẫn cán, lập nhiều chiến tích thì ta sẽ tâu thánh thượng chính thức phong ngươi làm thống soái Khâm Sát doanh.
Lương Tiêu vốn ngang ngạnh cố chấp, bị thái độ phản đối của những người xung quanh kích thích ngạo khí, gã bèn đứng ngay dậy chắp tay, nghênh ngang nhận lệnh.
Bá Nhan bảo gã ngồi xuống, chuyển chủ đề:
- Người Tống đã tăng cường lực lượng phòng thủ, cuộc chiến mà kéo dài thì hết sức bất tiện cho chúng ta, chư vị có kế nào phá thành không?
A Lý Hải Nha đưa ý kiến:
- Chi bằng đợi Hồi Hồi pháo[12] chế tạo xong rồi tấn công một thể.
Bá Nhan nhìn sang lão già mắt xanh:
- Trát Mã Lỗ Đinh, bao nhiêu ngày nữa thì hoàn thành đại pháo?
Trát Mã Lỗ Đinh đáp:
- Ta không rõ lắm, vì hỏa giả Nạp Tốc La Đinh thầy ta, bậc trí tuệ của các trí tuệ, vẽ sơ đồ thiết kế pháo này đã lâu nhưng chưa tiến hành chế tạo thử bao giờ. Tuy vậy theo lời người, đây là loại pháo đá công thành rất đáng sợ, tầm bắn cực xa, sức sát thương vô cùng lớn, bất luận thành trì kiên cố thế nào cũng phải sụp đổ.
Bá Nhan mừng rỡ:
- Ông chắc chắn chứ?
Trát Mã Lỗ Đinh lắc đầu:
- Vũ khí chưa thành hình thì uy lực của nó chỉ thể hiện trong lời nói của thầy ta thôi.
Bá Nhan bối rối, cau mày im lặng. Lương Tiêu đứng dậy cười bảo:
- Tôi không tin trên thế gian có cỗ pháo thần diệu đến thế, bởi máy móc tinh vi cỡ nào cũng có cách phá giải hết. So với việc chế tạo một thứ vũ khí trên giấy thì việc nghĩ ra mưu kế thích hợp còn hữu ích hơn.
Bá Nhan nhướng mày, giọng trầm trầm:
- Ngươi nói rõ xem!
Lương Tiêu nói:
- Hôm nay tôi đứng trên thạch đài quan sát Tương Dương và Phàn Thành, nhận ra rằng tuy chúng ta tấn công một tòa thành, nhưng thực chất phải tác chiến với tướng sĩ của cả hai bên.
Sử Thiên Trạch hỏi xen vào:
- Ý ngươi là dãy cầu nổi nối hai bờ phải không?
- Đúng vậy, – Lương Tiêu đáp. – Hai thành dễ dàng cứu viện cho nhau nhờ dãy cầu nổi ấy, người đời thường bảo: hai đánh một chẳng chột cũng què…
Bá Nhan gật đầu:
- Khá lắm, ngươi mới đến mà đã nhận ra chỗ cốt yếu trong việc tấn công thành lũy ở đây. Chúng ta biết chứ, và từng phái thủy quân đánh phá nhiều lần, nhưng đều thất bại vì người Tống bảo vệ cầu nổi rất chặt chẽ.
Lương Tiêu hỏi:
- Thủy quân không tiếp cận được, vậy nếu lặn ngầm thì sao?
Sử Thiên Trạch cau mày:
- Nói nghe đơn giản quá, hàng bao nhiêu người bơi xa như thế mà không bị quân Tống phát hiện chắc?
A Lý Hải Nha thoáng ngẫm nghĩ rồi nói:
- Nhân gợi lại việc này, tôi bỗng nghĩ ra một cách. Nguyên soái còn nhớ hồi thánh thượng chinh thảo Đại Lý, quân ta đã từng vượt sông Lan Thương thế nào không?
Bá Nhan cười:
- Ý ngươi nhắc đến mớ túi da chứ gì? Ta hiểu rồi! Hay ngươi và Lưu Chỉnh thử nghiệm xem sao.
Sau đó, y dặn dò thêm một số điều về đội ngũ luyện tập, cuối cùng cho mọi người lui. Lương Tiêu cưỡi ngựa về trại, sắp vào cổng lớn liền nghe có người hô:
- Đứng lại!
Lương Tiêu ngoảnh đầu trông thì thấy Lan Á đang hầm hầm phi ngựa tới, gã hơi cau mày. Gần đến nơi, Lan Á gò cương ngựa, tức giận hỏi:
- Ngươi dựa vào đâu mà dám khinh thường người khác?
Lương Tiêu ngạc nhiên:
- Ta khinh thường ai?
- Ngươi chê bai Hồi Hồi pháo do thầy ta thiết kế.
Lương Tiêu điềm tĩnh đáp:
- Ta chỉ nói năng hơi thẳng thắn chút thôi, không hề có ý coi nhẹ ai.
Mặt đỏ lựng, hàng mày liễu nhướng cao, Lan Á hằm hằm mắng:
- Ngươi xem thường thầy ta, ta phải quyết đấu với ngươi.
Lương Tiêu phì cười:
- Đấu cái gì? Cưỡi ngựa hay đánh nhau?
Lan Á hừ mũi:
- Những môn đó ngươi rành rẽ quá mà, ta đấu sao lại? Ta chỉ hỏi thế này thôi, ngươi có hiểu gì về hình học Âu Cơ Lý Đắc[13] không? Có hiểu gì về chiêm tinh, thủy lợi, thuật chế tạo cơ quan không? Có biết dùng cát khai triển ma phương không?
Lương Tiêu nhíu mày, ngoài thủy lợi và thuật tạo cơ quan ra, gã chưa bao giờ nghe đến những môn còn lại, lưỡng lự đôi hồi rồi hỏi:
- Cô nói sao cơ?
Lan Á được thể chì chiết:
- Ngươi không biết chứ gì? Đó là những kiến thức mà thầy ta thông hiểu nhất đấy. Một kẻ vô tri như ngươi mãn kiếp cũng không thấm thía được sự vĩ đại của người. Trí tuệ trác tuyệt của Nạp Tốc La Đinh khác nào gió lớn cuốn khắp mặt đất. Còn ngươi chẳng qua chỉ là một tên nô tài của hoàng đế nhà Nguyên mà thôi.
Nạp Tốc La Đinh là hiền triết người Hồi vĩ đại nhất thời bấy giờ, Lan Á vô cùng tôn kính ông nên không tha thứ bất cứ kẻ nào dám thốt ra những lời khinh mạn. Trong lúc tức giận nàng không cân nhắc cách nói năng, thành ra lăng nhục Lương Tiêu hết mức. Lương Tiêu siết chặt tay trái, máu nóng dồn lên mặt. Lan Á thấy mặt gã đỏ bầm, mắt long sòng sọc thì cũng hơi khiếp sợ, nhưng vì gã đã xúc phạm đến sự tôn nghiêm của bậc thầy Hồi Hồi nên nàng quyết không lui bước, lại quát to:
- Ngoài việc đánh giết và bắt nạt đàn bà con gái, ngươi còn hiểu biết những gì? Được lắm, ngươi lấy cung ra bắn đi, ta không sợ đâu!
Lương Tiêu sững người, hồi tưởng chuyện hôm trước cũng hơi hổ thẹn, bèn từ từ thả lỏng nắm tay:
- Cô là nhà tinh tú học Hồi Hồi?
- Tinh tú học thì sao?
Lương Tiêu nói:
- Nghe nói tinh tú gia Hồi Hồi rất giỏi toán số, biết đặt ra những cơ quan sâu xa ảo diệu, nắm được sự vận hành của sao trời, có thể thay đổi dòng chảy của sông biển, xây dựng nên những ngôi nhà không bao giờ mục nát, phải vậy không?
Lan Á hơi thắc mắc, nhưng vẫn gật đầu:
- Vậy là ngươi cũng biết.
Lương Tiêu cười nhạt, dằn từng tiếng:
- Được, học trò của Nạp Tốc La Đinh, ta nhận lời khiêu chiến. Chúng ta đấu thiên văn, cơ quan và thủy lợi. Những gì liên quan đến toán học thì tùy cô chọn.
Lan Á nghe với vẻ sửng sốt, đoạn bĩu môi vẻ miệt thị, nàng lạnh lùng bảo:
- Đúng là tự chuốc lấy nhục nhã!
[1] Sóng cồn Hán Thủy.
[2] Dùng ngũ hành luận binh pháp.
[3] Tên một nước cổ, ngày nay là vùng thung lũng Fergana của Uzbekistan. Nơi này có một giống ngựa dai sức, chạy nhanh, mồ hôi đỏ như máu, gọi là hãn huyết mã.
[4] Tức Indo-sthyc, một tộc cổ phân bố rải rác ở Trung Á. Vào thời điểm của câu chuyện này, vùng họ sống là biên giới Afghanistan ngày nay.
[5] Chú thích và bình giải về Sử Ký Tư Mã Thiên. Tác giả là Trương Thủ Tiết, sống vào những năm Khai Nguyên thời Đường.
[6] Chỉ bán đảo Đông Dương và một phần tiểu lục địa Ấn Độ ngày nay.
[7] Tức Madhya-desa, một vùng thuộc Trung Ấn, nằm ở hạ du sông Hằng.
[8] Tức La Mã.
[9] Hình ba ba hai đầu.
[10] Hình tê giác.
[11] Bài từ theo điệu Nhất tiễn mai, tác giả là một viên thư lại họ Dương thời nhà Tống.
[12] Còn gọi là Tây Vực pháo hay Tương Dương pháo, một loại vũ khí có sức sát thương lớn được người Nguyên cải tiến từ máy bắn đá thông thường, xuất hiện lần đầu trong sáu năm diễn ra trận chiến Tương Phàn (1267 – 1273).
[13] Tức hình học Euclid.

